Đây là lỗi của v1.3.0 khi máy chưa có builder.user.json hoặc keystorePath còn trống. v1.3.0.5 đã sửa: giao diện vẫn mở và dòng Android release signing hiển thị CẦN XỬ LÝ. Bấm Android signing để chọn hoặc tạo keystore; không cần copy biến PowerShell.
Đây là lỗi parser của v1.3.0.2 tại ExternalProcess.Common.ps1. v1.3.0.5 đã thay nội suy mơ hồ bằng toán tử -f và bắt buộc parse toàn bộ source bằng Windows PowerShell 5.1 trước khi mở Assistant hoặc build. Chạy 00_VALIDATE_NATIVE_WINDOWS.cmd; nếu không thấy NATIVE WINDOWS VALIDATION: PASS thì không tiếp tục build.
Nguyên nhân thường gặp: chạy trực tiếp 02_BUILD_ULTIMATE_DISTRIBUTED_DEMO.cmd trong cửa sổ mới nên các biến SCR_ANDROID_* của cửa sổ cũ không còn. Cách chuẩn ở v1.3.0.5: chạy START_FAST_DEMO_BUILDER.exe, cấu hình signing trong giao diện và để Assistant nạp DPAPI/environment cho tiến trình con.
Bấm Android SDK. Chọn thư mục chứa platform-tools, platforms, build-tools; thường là C:\Users\<USER>\AppData\Local\Android\Sdk. Cài Platform 35 nếu thiếu.
Bấm Gradle → Tạo Gradle Wrapper. Assistant ưu tiên Gradle đã cài; nếu không có sẽ tải Gradle 8.7 chính thức và xác minh SHA-256.
v1.3.0.5 giữ targetSdk 29 nhưng disable duy nhất lint rule ExpiredTargetSdkVersion cho APK FAST-DEMO phát hành trực tiếp. abortOnError và các lint error khác vẫn được giữ.
Cảnh báo xuất hiện khi inject Node SEA blob vào bản sao node.exe chưa Authenticode-sign. Builder tiếp tục kiểm tra manifest/hash. Đây không phải Android signing failure.
Cảnh báo package deprecated không đồng nghĩa build thất bại. Chỉ xử lý khi có dòng ERR!, exit code khác 0 hoặc Builder báo FAIL.
Xem công đoạn hiện tại và log trực tiếp. Lần đầu npm/Gradle/Python tải dependency có thể lâu. Không đóng cửa sổ và không xóa thư mục cache khi tiến trình đang chạy.
Secret DPAPI được gắn với tài khoản/profile Windows. Nếu chuyển source sang máy hoặc tài khoản khác, cấu hình lại signing/PKI; không copy mật khẩu dạng rõ vào source.
License: xem HUONG_DAN_ACTIVATE_CAP_LICENSE_CHI_TIET_v1.3.0.6.4.8.md ở thư mục gốc.
Đây là lỗi quote --root "%~dp0" khi %~dp0 kết thúc bằng dấu gạch chéo ngược. v1.3.0.5 chuẩn hóa SCR_TOPOLOGY_ROOT bỏ dấu cuối và launcher từ chối INVALID_COMMAND_LINE_ROOT nếu tham số bị nuốt.
Nếu log chỉ liệt kê các file public\*.js dù trước đó có dòng Protected public assets, đây là false positive của verifier v1.3.0.4.1. v1.3.0.5 dùng manifest schema v2 và SHA-256 để phân biệt asset đã bảo vệ với source thật. Copy cache sang workspace mới và chạy 04_RESUME_FROM_STEP_11.cmd.
Owner Kit cũ truyền JSON limits inline qua Windows PowerShell 5.1 nên dấu ngoặc kép có thể bị mất. v1.3.0.5 dùng --limits-file. Không sửa thủ công JSON; dùng Owner Kit mới được tạo lại ở bước 11.
Đây là lỗi v1.3.0.6.1 do GUI hard-code marker BUILDER=1.3.0.6. v1.3.0.6.4.8 đọc phiên bản từ builder-version.json và parse marker theo trường. Không copy riêng script cũ sang bản mới.